Thông báo nghỉ lễ      Cảnh giác bệnh tim khi đau lưng đột ngột      Hội thảo: Chiến lược theo dơi tổn thương tiền Ung thư và chẩn đoán Ung thư dạ dày sớm      Thông báo chiêu sinh lớp Quản lư hen và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trong cộng đồng – Khóa 43      Thông báo chiêu sinh lớp Điều dưỡng dụng cụ trong phẫu thuật nội soi ổ bụng   
Javascript DHTML Drop Down Menu Powered by dhtml-menu-builder.com

GIẢI ĐÁP & TƯ VẤN

Trung tâm Huấn luyện
Phẫu thuật Nội soi

Bệnh viện Đại học Y Dược
Cơ sở 2
 
      
  Viêm loét và Ung thư dạ dày - tá tràng
  (21.07.2010)
  Viêm loét dạ dày - tá tràng (DD-TT) là bệnh khá phổ biến, có ở mọi nước trên thế giới, nó gây rất nhiều phiền toái cho người bệnh trong sinh hoạt cũng như việc ăn uống mỗi ngày, và còn gây nguy hiểm đến tính mạng.  

Tiến sĩ - bác sĩ Trần Thiện Trung (Nguyên Trưởng khoa Khám bệnh, Bệnh viện đại học Y - Dược TP.HCM) - người đã thành công với luận án tiến sĩ về đề tài Điều trị tiệt trừ H.pylori sau mổ khâu thủng loét DD-TT (biến chứng của bệnh loét DD-TT) cho biết: Ngoài nguyên nhân, vai trò chính của vi khuẩn H.pylori trong bệnh viêm loét DD-TT, thì còn có các yếu tố gây bệnh khác như: do sử dụng các loại thuốc chống viêm, thuốc Asprin (điều trị các bệnh đau nhức xương, khớp...) không đúng chỉ định, kéo dài; yếu tố về thần kinh (luôn bị căng thẳng, lo âu quá mức); do rượu; thuốc lá. Ngoài ra, người bệnh trải qua một cuộc mổ lớn, hoặc bị nhiễm trùng, sốc, bỏng nặng... thì cũng có thể bị viêm loét DD-TT...

Tỷ lệ nhiễm H.pylori khác nhau tùy theo mỗi nước, cũng như tùy từng trường hợp. Chẳng hạn, trên 90% số người bị viêm dạ dày có sự hiện diện của vi khuẩn H.pylori; tương tự, tỷ lệ này chiếm từ 75 - 85% trong bệnh loét dạ dày; 95 - 100% ở bệnh loét tá tràng; còn trong biến chứng thủng loét DD-TT thì sự hiện diện của loại vi khuẩn này chiếm từ 80 - 95% trường hợp.

Người bị viêm loét DD-TT có H.pylori dương tính sẽ có những triệu chứng biểu hiện như: ăn vào thường bị đầy bụng, đầy hơi, khó tiêu, có thể buồn nôn, nôn ói. Đau bụng ở vùng trên rốn (đối với loét tá tràng thường cơn đau xuất hiện muộn sau khi ăn, có trường hợp bị đau lúc khoảng 2 giờ sáng; còn loét dạ dày thường cơn đau xuất hiện sớm sau ăn, đau kéo dài và nặng hơn...)... Tuy nhiên, những biểu hiện trên chỉ có tính gợi ý. Việc xác định bệnh chủ yếu dựa trên phim chụp X - quang dạ dày, hoặc nội soi DD-TT. Nếu bị viêm loét DD-TT trong nhiều tháng, nhiều năm mà chữa trị không đúng thì bệnh có thể gây ra những biến chứng như: chảy máu nhiều đợt (nôn ra máu, đi tiêu phân đen như bã cà phê); hẹp môn vị (gây ứ đọng thức ăn trong dạ dày, nôn ói...); thủng ổ loét (đau bụng dữ dội, đột ngột, đau khắp bụng, thành bụng bị co cứng... phải mổ cấp cứu)...

Điều trị và phòng ngừa bệnh

Bác sĩ Trần Thiện Trung cho rằng, bệnh viêm loét DD-TT cần được chẩn đoán sớm để phát hiện vi khuẩn H.pylori, phát hiện những thương tổn do viêm loét DD-TT, và phát hiện ung thư dạ dày (qua nội soi), nhằm có biện pháp chữa trị kịp thời. Trong mấy chục năm qua, ranh giới giữa điều trị nội khoa hay ngoại khoa có nhiều thay đổi. Việc phát hiện ra vi khuẩn H.pylori dẫn đến việc điều trị viêm loét DD - TT với nội dung chính là tiệt trừ H.pylori bằng những loại thuốc thích hợp. Các công trình nghiên cứu gần đây của các nhà tiêu hóa đã chứng minh rằng, tiệt trừ thành công vi khuẩn H.pylori sẽ có ý nghĩa làm giảm tần suất mắc bệnh ung thư dạ dày.

Một số nghiên cứu đã cho thấy, vi khuẩn H.pylori có thể sống trong thịt đông lạnh 3 ngày, do vậy, cần hạn chế việc ăn thịt sống, cá sống. Bệnh có thể lây nhiễm qua đường miệng - miệng; dạ dày - miệng... (H.pylori không lây qua đường quan hệ vợ chồng). Nhiều người có thể bị lây bệnh do nghề nghiệp như: các bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa, các nha sĩ, những người làm ở các lò giết mổ... Mặc dù còn có những ý kiến khác nhau về đường lây truyền bệnh, nhưng việc lây nhiễm H.pylori bằng đường tiêu hóa đã được các nhà chuyên môn thống nhất. Chúng ta cũng hy vọng trong một tương lai gần, các nhà nghiên cứu sẽ tìm ra vắc-xin ngừa lây nhiễm vi khuẩn H.pylori.

Helicobacter pylori và giải Nobel y học năm 2005

Giải Nobel y học năm 2005 thuộc về hai nhà khoa học người Úc là Barry J.Marshall và J.Robin Warren nhờ công phát hiện ra vi khuẩn Helicobacter pylori (H.P) là tác nhân chính gây viêm loét dạ dày - tá tràng (DD-TT).

Thật ra, việc phát hiện vi khuẩn này là cả một quá trình lịch sử lâu dài. Năm 1893, Bizzozero đã ghi nhận có một loại xoắn khuẩn hiện diện trong mô dạ dày của chó. Sau đó, lần lượt nhiều tác giả khác cũng tìm thấy vi khuẩn hiện diện trong dạ dày của khỉ và một số động vật khác nhưng tiếc thay, họ không thể nuôi cấy được các loại vi khuẩn này. Mãi đến đầu thập niên 80, Robin Warren, một bác sĩ giải phẫu bệnh ở Perth (Úc) tìm thấy một loại xoắn khuẩn trông giống như vi khuẩn Campylobacter hiện diện ở mẫu mô viêm dạ dày mãn tính. Sau đó, Barry Marshall, một nghiên cứu sinh làm việc tại phòng thí nghiệm đã nuôi cấy thành công vi khuẩn này. Năm 1983, trong tờ báo Lancet, Warren và Marshall đã chính thức công bố về sự hiện diện của H.P trong dạ dày và mối liên quan của nó đối với bệnh loét DD-TT. Công bố này đã gây không ít sự tranh cãi trong giới y học vì từ lâu người ta vẫn quan niệm rằng loét DD-TT chủ yếu là do rối loạn tăng tiết axít chlohydric ở dạ dày hoặc do hệ thống bảo vệ niêm mạc bị suy yếu, làm cho axít dễ dàng tấn công gây tổn thương niêm mạc. Mặt khác, người ta không thể tin rằng trong một môi trường khắc nghiệt như dạ dày, với nồng độ axít rất cao (pH3-4), làm gì có một vi sinh vật nào có thể tồn tại và phát triển được. Chính vì vậy, Marshall đã tự gây nhiễm H.P vào dạ dày của mình để xem vi khuẩn này có phải là tác nhân gây bệnh hay chỉ là vi khuẩn cộng sinh trên niêm mạc dạ dày đã bị viêm; 8 ngày sau, ông bị viêm dạ dày cấp tính do H.P. Như vậy, gần 22 năm sau, hai nhà khoa học trên mới được công nhận thành quả lao động của mình một cách xứng đáng.

Sự phát hiện ra H.P đã tạo một bước đột phá mới trong lĩnh vực nghiên cứu về bệnh sinh và điều trị của bệnh viêm loét DD-TT. Dần dần, người ta đã chứng minh rằng H.P không chỉ gây ra viêm loét DD-TT mà còn liên quan đến bệnh ung thư dạ dày và một loại ung thư lymphô ở dạ dày.

Một khi phát hiện có nhiễm H.P và có triệu chứng viêm loét DD-TT, chúng ta cần tiến hành điều trị sớm và sử dụng thuốc đúng quy cách để đạt hiệu quả tối ưu. Mục tiêu của việc điều trị là ngăn ngừa sự tái phát và các biến chứng của bệnh như xuất huyết tiêu hóa, thủng dạ dày, hẹp môn vị và khả năng chuyển sang ung thư dạ dày. Để tiêu diệt H.P, người ta có thể dùng các loại kháng sinh như amoxicillin, clarithromycin, metronidazole, tetracycline... Hiện nay, vấn đề kháng thuốc của H.P đang có khuynh hướng gia tăng và thật sự gây khó khăn cho việc điều trị. Nhiều bệnh nhân sau khi điều trị vẫn còn có kết quả H.P dương tính làm cho họ rất hoang mang. Vả lại, ở những trường hợp kháng thuốc, người ta bắt buộc phải phối hợp thêm nhiều kháng sinh sẽ làm gia tăng tác dụng phụ và làm cho chi phí điều trị càng cao hơn, vì thế bệnh nhân càng khó chấp nhận tuân thủ điều trị. Chính vì vậy, khi điều trị H.P lần đầu tiên, chúng ta phải hết sức chú ý và tuân thủ những nguyên tắc quan trọng khi sử dụng kháng sinh: 1) nên chọn các kháng sinh đảm bảo chắc chắn về chất lượng và ít bị kháng thuốc trong cộng đồng (ví dụ như clarithromycin, amoxicillin); 2) phối hợp ít nhất 2 loại kháng sinh có hiệu quả; 3) sử dụng đủ liều lượng; 4) đảm bảo tuân thủ về số lần uống thuốc trong ngày và thời gian điều trị ít nhất là 7 ngày; 5) kết hợp với các thuốc kháng tiết axít mạnh như các thuốc ức chế bơm proton để tạo điều kiện tối ưu cho kháng sinh phát huy tác dụng.

TS-BS Bùi Hữu Hoàng
(Giảng viên Đại học Y - Dược TP.HCM)

 
Nguồn tin : (Thanh Niên)     
 
Các tin tức khác cùng chủ đề  
Chụp UIV là ǵ?  Chụp UIV là ǵ?  ( 02.10.2010 )
Nội Soi Tiêu Hóa (Thực quản - Dạ dày - Tá tràng)  Nội Soi Tiêu Hóa (Thực quản - Dạ dày - Tá tràng)  ( 02.10.2010 )
Vi khuẩn Helocobacter Pylori  Vi khuẩn Helocobacter Pylori  ( 02.10.2010 )
Các phương pháp điều trị đổ mồ hôi (Hyperhidrosis)  Các phương pháp điều trị đổ mồ hôi (Hyperhidrosis)  ( 28.09.2010 )
Bệnh Ung Thư : Khái niệm, dấu hiệu mắc bệnh và cách dự pḥng  Bệnh Ung Thư : Khái niệm, dấu hiệu mắc bệnh và cách dự pḥng  ( 27.09.2010 )
Hướng dẫn sau mổ Sa sinh dục  Hướng dẫn sau mổ Sa sinh dục  ( 26.09.2010 )
Giăn tĩnh mạch thừng tinh là ǵ ?  Giăn tĩnh mạch thừng tinh là ǵ ?  ( 10.02.2010 )
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính  Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính  ( 28.09.2006 )
Bệnh Viêm Gan Siêu Vi C : Những câu hỏi thường gặp  Bệnh Viêm Gan Siêu Vi C : Những câu hỏi thường gặp  ( 28.09.2006 )
Bệnh Viêm Gan Siêu Vi C : Những câu hỏi thường gặp (tiếp theo)  Bệnh Viêm Gan Siêu Vi C : Những câu hỏi thường gặp (tiếp theo)  ( 28.09.2006 )

 [ Xem tất cả tin trong mục này ]




    THÔNG TIN ĐÀO TẠO

Thông báo chiêu sinh lớp Quản lư hen và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trong cộng đồng – Khóa 43

Thông báo chiêu sinh lớp Điều dưỡng dụng cụ trong phẫu thuật nội soi ổ bụng

Thông báo chiêu sinh lớp Nội soi tiêu hóa trên căn bản – Khóa 8

Thông báo chiêu sinh lớp tập huấn: PHẪU THUẬT THAY KHỚP GỐI CĂN BẢN

Thông báo Chiêu sinh lớp Tập huấn Nhân viên Nhà thuốc

Đào tạo Hộ lư trong Bệnh viện khóa 2013 - 2014










  UMC

 

© Copyright 2003-2011 -  Email: bvdh@hcm.vnn.vn
Bệnh viện Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: 215 Hồng Bàng, P 11, Q5, TP.Hồ Chí Minh
Điện thoại: (84.8) 3855 4269; Fax: (84.8) 3950 6126