Thông báo nghỉ lễ      Cảnh giác bệnh tim khi đau lưng đột ngột      Hội thảo: Chiến lược theo dơi tổn thương tiền Ung thư và chẩn đoán Ung thư dạ dày sớm      Thông báo chiêu sinh lớp Quản lư hen và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trong cộng đồng – Khóa 43      Thông báo chiêu sinh lớp Điều dưỡng dụng cụ trong phẫu thuật nội soi ổ bụng   
Javascript DHTML Drop Down Menu Powered by dhtml-menu-builder.com

GIẢI ĐÁP & TƯ VẤN

Trung tâm Huấn luyện
Phẫu thuật Nội soi

Bệnh viện Đại học Y Dược
Cơ sở 2
 
      
  Khoa Chẩn đoán H́nh ảnh
  (25.09.2010)
  
 Chẩn đoán hình ảnh (imaging diagnosis) hay hình ảnh học y khoa (imagerie médicale) là ngành ứng dụng các kỹ thuật khoa học công nghệ vào chẩn đoán y học nhằm khám phá các cấu trúc của cơ thể con nguời, được thể hiện bằng những hình ảnh theo qui ước.
 
1. Nhân sự
- Trưởng khoa: ThS BS. Võ Tấn Đức
- Phó trưởng khoa: BS. Nguyễn Quang Thái Dương
- Thường xuyên có sự cộng tác của các bác sĩ nội trú CĐHA: khoảng 10 bác sĩ
- Điều dưỡng Trưởng khoa: Nguyễn Thị Ngọc
- Kỹ thuật viên Trưởng: Nguyễn Văn Hậu
- Tổ trưởng công đoàn: Nguyễn Văn Được<

2. Đôi nét về ngành Chẩn đoán Hình ảnh
   -  Chẩn đoán hình ảnh (imaging diagnosis) hay hình ảnh học y khoa (imagerie médicale) là ngành ứng dụng các kỹ thuật khoa học công nghệ vào chẩn đoán y học nhằm khám phá các cấu trúc của cơ thể con nguời, được thể hiện bằng những hình ảnh theo qui ước. Cho đến nay, ngành chẩn đoán hình ảnh bao gồm những kỹ thuật chính: X-Quang, Siêu âm, X-Quang cắt lớp điện toán (CT scanner – computed tomography scanner), Cộng hưởng từ (MRI – magnetic resonance imaging) và Y học hạt nhân.
   -  Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, nhất là ngành công nghệ thông tin, các phương tiện chẩn đoán hình ảnh không ngừng được cải tiến nhằm nâng cao khả năng chính xác và tính hữu ích của nó.
  • Truy tầm và phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm.
  • Chẩn đoán các giai đoạn của bệnh.
  • Và điều trị bệnh, vai trò này ngày càng chiếm vị trí to lớn.
   -  X - Quang là kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh đầu tiên được ứng dụng từ những năm đầu của thế kỷ XX, ứng dụng tia X do nhà vật lý học Roentgen khám phá vào năm 1895. Kỹ thuật này từ khi ra đời, đã thống trị ngành chẩn đoán hình ảnh trong một thời gian dài hơn nửa thế kỷ và vẫn còn được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán cho đến ngày nay. Vì vậy mà trước đây, ngành chẩn đoán hình ảnh có tên gọi là ngành X - quang.
   -  Mãi cho đến những năm 1950, kỹ thuật hình ảnh thứ hai là Y học hạt nhân (còn gọi là ghi hình phóng xạ hay xạ hình) lần đầu tiên được đưa vào ứng dụng trên lâm sàng với máy ghi hình gamma đặc biệt. Kỹ thuật này được thực hiện bằng cách đưa vào trong cơ thể một loại chất phóng xạ có liều rất thấp, chất này sẽ được các cơ quan, nội tạng hấp thu rồi phát ra những tín hiệu phóng xạ được máy ghi hình gamma thu nhận và đo đạc.
   -  Siêu âm là kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh thứ ba được đưa vào ứng dụng lâm sàng từ những năm 1960. Kỹ thuật này sử dụng một đầu dò phát ra chùm sóng âm thanh có tần số rất cao (gọi là sóng siêu âm mà tai người không nghe được) đi xuyên vào cơ thể, lan truyền đến các cơ quan nội tạng bên trong, tương tác năng lượng, sau đó một phần sóng được phản hồi trở lại và được đầu dò thu nhận, chuyển tín hiệu về bộ phận xử lý để cho ra những hình ảnh sống động của cơ quan nội tạng đó mà ta thấy được như ngày nay. Đây là kỹ thuật ứng dụng nguyên lý của sóng âm thanh, không bức xạ nên có tính an toàn sinh học cao. Cho đến nay, nhờ những tiến bộ trong công nghệ kỹ thuật số, cộng nghệ chế tạo máy, các kỹ thuật siêu âm Doppler màu, siêu âm 3 chiều, 4 chiều, siêu âm trong lòng các ống tiêu hóa, trong lòng mạch máu, đường tiết niệu… với các kích thước đầu dò ngày càng nhỏ nhưng độ phân giải ngày càng cao đã nâng cao chất lượng hình ảnh cho chẩn đoán.
   -  Từ thập niên 1970, kỹ thuật số bắt đầu được ứng dụng vào X-Quang đã làm kỹ thuật này phát triển mạnh mẽ theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu, được xem là một cuộc cách mạng. X-Quang số hóa hay X-Quang kỹ thuật số đã làm giảm đáng kể liều tia xạ phát ra khi chụp, chất lượng hình ảnh được nâng cao nhờ tăng độ phân giải không gian và phân giải tương phản. Ngoài ra hình ảnh có thể được xử lý với các phần mềm, có thể dựng hình, tái tạo hình 3 chiều, nâng cao tính chính xác của chẩn đoán cũng như dễ dàng lưu trữ, truy cập và chuyển tải. Đỉnh cao về chiều sâu của sự kết hợp này là sự phát minh ra máy chụp X-Quang cắt lớp điện toán đã mang lại cho Hounsfield, được xem là cha đẻ của loại máy này, giải Nobel Y học vào năm 1972.
   -  Hiện tượng cộng hưởng từ đã được khám phá từ những năm 1950, nhưng mãi đến thập niên 80 mới được ứng dụng đầu tiên trên lâm sàng. Máy cộng hưởng từ đầu tiên được đưa ra thị trường và được Tổ chức thuốc và thực phẩm (FDA) của Mỹ công nhận vào năm 1984 và ngay sau đó đã phát triển rộng rãi. Đây là kỹ thuật tạo ảnh ứng dụng những nguyên lý cộng hưởng của từ trường bên ngoài (máy cộng hưởng từ, bản chất là khối nam châm có từ lực cao) và bên trong (từ trường do cơ thể tạo ra). Do đó, cũng như siêu âm, nó có tính an toàn sinh học cao nên có thể dùng để chẩn đoán các bệnh lý của bào thai, trẻ em… Tuy nhiên, giá thành chụp cộng hưởng từ cho đến nay còn đắt.
       + X - Quang: Hệ thống X - Quang tại Bệnh viện Đại học Y Dược đã được kỹ thuật số hóa toàn bộ đã giảm thiểu đáng kể liều tia xạ phát ra khi chụp so với các hệ thống máy X - Quang thông thường, chất lượng hình ảnh cao hơn, được xử lý và lưu trữ lâu dài. Hệ thống máy in phim khô, kỹ thuật số trên nền phim chất lượng cao cho ra những tấm phim đến tay người bệnh có hình ảnh sắc nét, bảo quản được lâu dài và giảm đáng kể thời gian chờ đợi kết quả. Bệnh viện thực hiện tất cả các kỹ thuật chụp X - Quang thông thường, các loại X - uang có cản quang, X - Quang vú, X - Quang động học tống phân (defecography)… cũng như các kỹ thuật thủ thuật như chụp mật xuyên gan qua da, chụp mật tụy qua nội soi, sinh thiết tuyến vú dưới hướng dẫn của máy X - Quang vú….
       + Siêu âm: Ngoài các loại siêu âm tổng quát thông thường, siêu âm tim, siêu âm Doppler màu mạch máu và nội tạng các loại, siêu âm sản phụ khoa, khoa chẩn đoán hình ảnh đã thực hiện các loại kỹ thuật siêu âm đặc biệt như:
  • Siêu âm 3 chiều, 4 chiều.
  • Siêu âm trong mổ mở và mổ nội soi với các đầu dò chuyên dụng.
  • Siêu âm lòng trực tràng, lòng hậu môn để đánh giá các bệnh lý của hậu môn trực tràng với đầu dò xoay 360 độ tái tạo hình 3 chiều.
  • Siêu âm tuyến tiền liệt với đầu dò 2 bình diện Doppler màu, 3 chiều dễ dàng đánh giá đo đạc tổn thương và sinh thiết đúng qui cách, ít đau.
  • Siêu âm bơm nước lòng tử cung.
  • Thực hiện các thủ thuật can thiệp: các loại sinh thiết, khảo sát tế bào bằng chọc hút kim nhỏ (FNA), chọc hút, dẫn lưu dịch, áp xe….
       + Chụp cắt lớp điện toán (CT scanner): Thực hiện tất cả các kỹ thuật chụp trên máy CT đa lớp cắt, đo đạc, tái tạo, dựng hình… cung cấp những thông tin thiết thực cho chẩn đoán và điều trị.
       + Chụp Cộng hưởng từ MRI: Máy có từ trường cao 1,5 Tesla, công nghệ ma trận ghi hình toàn thân (TIM) làm cho thời gian chụp được nhanh hơn với chất lượng hình cao, kết nối được các bộ phận, toàn thân. Bệnh viện thực hiện tất cả các kỹ thuật, chụp tất cả các bộ phận: sọ não, đầu - mặt - cổ, cột sống, phần mềm, cơ - xương - khớp, vùng bụng - chậu, tuyến vú, chụp mạch máu …
          * Đặc biệt, khoa đã thực hiện các kỹ thuật
  • Tiêm tương phản nội khớp (arthro - MR), giúp phát hiện dể dàng, chính xác và đầy đủ các thương tổn của khớp.
  • Chụp mạch máu toàn thân.
  • Chụp mạch bạch huyết.
  • Chụp tuyến vú với kỹ thuật khảo sát động học đồng thời hai vú.
  • Khảo sát động học vùng sàn chậu, khảo sát tống phân (defeco-MR).
  • Chụp tuyến tiền liệt, tử cung phần phụ, ống hậu môn với endocoil….
       + Y học Hạt nhân: Với hai máy ghi hình Spect, bệnh viện đã thực hiện các kỹ thuật xạ hình để đánh giá thương tổn cũng như chức năng của tuyến giáp, thận, tim, xương….
       + Hình ảnh học can thiệp: Với chức năng điều trị, khoa chẩn đoán hình ảnh đã thực hiện các kỹ thuật điều trị:
  • Hủy khối u hay nang bằng ethanol trong điều trị các khối u gan, nang gan, nang thận, nang tuyến giáp… dưới hướng dẫn siêu âm.
  • Hủy u bằng sóng cao tần (RFA) điều trị các khối u gan.
  • Chọc hút, dẫn lưu, giải áp các khối tụ dịch, áp xe, dẫn lưu giải áp đường mật, túi mật….
  • Thuyên tắc hoá dầu động mạch gan (TACE) điều trị ung thư gan.
  • Thuyên tắc các loại khối u vĩnh viễn hay tạm thời trước mổ: u mạch máu ở gan, ở thận, trong mô mềm….
  • Thuyên tắc động mạch tử cung trong điều trị u xơ tử cung, băng huyết sau sinh….
  • Thuyên tắc động mạch điều trị ho ra máu, xuất huyết tiêu hóa….
  • Các kỹ thuật đặt stent, lấy máu đông trong điều trị hẹp hay thuyên tắc các động mạch ở thận, ở các chi….
   -  Ngày nay, chẩn đoán hình ảnh có các chức năng chính:
 
Nguồn tin : BVDHYD     
 
Các tin tức khác cùng chủ đề  
Khoa Cấp cứu  Khoa Cấp cứu  ( 12.11.2013 )
Khoa Tạo h́nh Thẩm mỹ  Khoa Tạo h́nh Thẩm mỹ  ( 09.05.2011 )
Khoa Tai Mũi Họng  Khoa Tai Mũi Họng  ( 22.04.2011 )
Khoa Nội  Khoa Nội  ( 05.04.2011 )
Phân khoa Y Học Hạt Nhân  Phân khoa Y Học Hạt Nhân  ( 10.11.2010 )
Khoa Kiểm soát Nhiễm khuẩn  Khoa Kiểm soát Nhiễm khuẩn  ( 19.10.2010 )
Đơn vị Nam học  Đơn vị Nam học  ( 16.10.2010 )
Phân khoa Hậu môn Trực tràng  Phân khoa Hậu môn Trực tràng  ( 16.10.2010 )
Khoa Thăm ḍ Chức năng Hô hấp  Khoa Thăm ḍ Chức năng Hô hấp  ( 03.09.2010 )
Khoa Ngoại  Khoa Ngoại  ( 03.09.2010 )

 [ Xem tất cả tin trong mục này ]




    THÔNG TIN ĐÀO TẠO

Thông báo chiêu sinh lớp Quản lư hen và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trong cộng đồng – Khóa 43

Thông báo chiêu sinh lớp Điều dưỡng dụng cụ trong phẫu thuật nội soi ổ bụng

Thông báo chiêu sinh lớp Nội soi tiêu hóa trên căn bản – Khóa 8

Thông báo chiêu sinh lớp tập huấn: PHẪU THUẬT THAY KHỚP GỐI CĂN BẢN

Thông báo Chiêu sinh lớp Tập huấn Nhân viên Nhà thuốc

Đào tạo Hộ lư trong Bệnh viện khóa 2013 - 2014










  UMC

 

© Copyright 2003-2011 -  Email: bvdh@hcm.vnn.vn
Bệnh viện Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: 215 Hồng Bàng, P 11, Q5, TP.Hồ Chí Minh
Điện thoại: (84.8) 3855 4269; Fax: (84.8) 3950 6126