Thông báo nghỉ lễ      Cảnh giác bệnh tim khi đau lưng đột ngột      Hội thảo: Chiến lược theo dơi tổn thương tiền Ung thư và chẩn đoán Ung thư dạ dày sớm      Thông báo chiêu sinh lớp Quản lư hen và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trong cộng đồng – Khóa 43      Thông báo chiêu sinh lớp Điều dưỡng dụng cụ trong phẫu thuật nội soi ổ bụng   
Javascript DHTML Drop Down Menu Powered by dhtml-menu-builder.com

GIẢI ĐÁP & TƯ VẤN

Trung tâm Huấn luyện
Phẫu thuật Nội soi

Bệnh viện Đại học Y Dược
Cơ sở 2
 
      
  Huyết khối tĩnh mạch sâu
  (10.10.2013)
  
Huyết khối tĩnh mạch sâu (HKTMS), thuyên tắc phổi (TTP) và hội chứng sau tắc tĩnh mạch sâu (HCSTTMS) hiện nay là vấn đề rất quan trọng do có tỷ lệ tử vong cao và để lại nhiều di chứng khó khắc phục. Điều không may, đây lại là nhóm bệnh lý khá thường gặp trong lâm sàng.
 

Biểu hiện bệnh có thể âm thầm không triệu chứng, cũng có thể tiến triển rầm rộ với biến chứng nguy hiểm. HKTMS không được điều trị có thể dẫn tới TTP trong 30 - 50% trường hợp. Các nghiên cứu trên tử thiết cho thấy tỷ lệ HKTMS rất cao, gặp trong 35 - 52% các trường hợp, nhất là ở những bệnh nhân hậu phẫu nặng và nằm lâu.

Tại Hoa Kỳ, mỗi năm có khoảng 250.000 ca HKTMS cấp tính và từ 50.000 đến 100.000 ca tử vong do TTP. Ở nước ta, nhóm bệnh lý này vẫn chưa được đánh giá và nghiên cứu đúng mức, chỉ mới có các số liệu riêng lẻ của một số trung tâm.

SINH LÝ BỆNH
Bộ ba yếu tố sinh lý bệnh của Virchow trong sự hình thành huyết khối là: (1) các bất thường của dòng máu, (2) các rối loạn về đông máu và (3) các thương tổn thành mạch máu.

Bất thường về dòng chảy
Hầu hết các HKTM đều bắt nguồn từ các vị trí có dòng máu chảy chậm hoặc ứ trệ. Mặt khác, nhiều yếu tố nguy cơ của HKTM cấp đều liên quan đến tình trạng bất động nằm lâu và tình trạng dòng máu chảy chậm. Tại vị trí đáy của các van tĩnh mạch, khi dòng máu ứ trệ, sẽ xuất hiện trạng thái thiếu oxy tại chỗ. Hậu quả là các tế bào nội mạc sản sinh ra các yếu tố kích thích cytokin và kết dính bạch cầu, dẫn đến tổn thương của nội mạc và tạo lập cục máu đông.

Rối loạn đông máu
Các tình trạng tăng đông và ức chế quá trình tiêu sợi huyết là những yếu tố thuận lợi cho việc hình thành và phát triển cục máu đông. Các tình trạng rối loạn đông máu này được ghi nhận trong các trường hợp bệnh nhân có bệnh lý tăng đông, hậu phẫu, sử dụng thuốc ngừa thai hoặc ung thư.

Thương tổn nội mạc
Các thương tổn cơ học của thành tĩnh mạch có vai trò rất rõ ràng đối với sự hình thành huyết khối trong các trường hợp chấn thương và vết thương tĩnh mạch, trong tạo hình khớp háng và đặt catête tĩnh mạch trung tâm.

Bình thường, lớp nội mạc mạch máu có tính kháng đông do sản xuất ra prostacyclin (prostaglandin I2), các yếu tố kháng đông, thrombomodulin và t-PA (tissue plasminogen activator). Tuy nhiên, khi bị thương tổn, lớp nội mạc có thể chuyển sang trạng thái tiền đông máu, do phóng thích ra các yếu tố nội mô, von Willebrand, fibronectin. Bề mặt tế bào nội mạc cũng xuất hiện nhiều thụ thể kết dính bạch cầu và tiểu cầu, tạo điều kiện cho việc hình thành cục máu đông. Mặt khác, các tế bào viêm tiết ra các interleukin và TNF (tumor necrosis factors) cũng có vai trò nhất định trong sự đông máu.


TM: thrombomodulin; EPCR (endothelial protein C receptor): thụ thể protein C nội mạc; II: prothrombin; IIa: thrombin; TF (tissue factor): yếu tố mô; Fgn: fibrinogen; RBC (red blood cells): hồng cầu.

CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ
HKTMS xảy ra khi có kèm các yếu tố nguy cơ thì được xem là thứ phát, còn khi không tìm thấy yếu tố nguy cơ nào thì được xem là nguyên phát hay vô căn. Có khoảng 47% các trường hợp được ghi nhận có kèm một hay nhiều yếu tố nguy cơ.

  • Mắc phải: lớn tuổi, mổ lớn và mổ chỉnh hình, ung thư (đặc biệt là ung thư tụy), bất động (mang bột, ngồi lâu nhất là khi đi máy bay), thai nghén và thời kỳ hậu sản, hội chứng kháng phospholipid, chấn thương và vết thương cẳng chân, huyết khối hay thuyên tắc phổi trước đó, dùng thuốc uống tránh thai, dùng hormon thay thế nhất là thuốc uống, đặt catête tĩnh mạch trung tâm, các bệnh viêm nhiễm, một số bệnh tự miễn, hội chứng thận hư, béo phì, nhiễm khuẩn, HIV, polycythemia vera (bệnh của tủy xương làm tăng số lượng tế bào máu, trước hết là hồng cầu), hóa trị.
  • Di truyền: thiếu hụt antithrombin, thiếu hụt protein C, thiếu hụt protein S (typ I), yếu tố V Leiden, prothrombin G20210A, rối loạn fibrinogen-máu, nhóm máu không phải O.
  • Hỗn hợp: protein S tự do thấp, kháng protein C kích hoạt, yếu tố VIII cao, homocystein-máu cao, fibrinogen cao, yếu tố IX cao, yếu tố XI cao.

Cẳng chân phải bị HKTMS.
CÁC DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG
Các dấu hiệu và triệu chứng hay gặp của HKTMS bao gồm đau, phù, ấm, đỏ hay biến đổi màu, căng các tĩnh mạch bề mặt chi, mặc dù có khoảng 1/2 số trường hợp không có triệu chứng. Các dấu hiệu và triệu chứng đơn độc không đủ độ nhạy hay độ đặc hiệu để chẩn đoán, nhưng khi kết hợp với các yếu tố nguy cơ như đã nói thì có thể giúp xác định khả năng bị HKTMS. Trong đa số các trường hợp nghi ngờ, sau khi đánh giá có thể loại trừ HKTMS và các triệu chứng thường là do các nguyên nhân khác, chẳng hạn như viêm mô tế bào, nang Baker (nang hoạt dịch ở vùng khoeo), tổn thương cơ xương, hay phù do tắc mạch bạch huyết. Chẩn đoán phân biệt với máu tụ, các khối u, các túi phình tĩnh mạch hay động mạch và các bệnh của mô liên kết.

Một hình thái nặng và ít gặp của HKTMS là phegmatia cerula dolens (theo từ ngữ: phù, xanh tím, đau) có thể đe dọa đến tính mạng. Đặc điểm là tắc cấp tính gần như toàn bộ tĩnh mạch của chi, kể cả các tĩnh mạch chậu và đùi. Chân thường đau, tím tái (do thiếu oxy) và phù (đầy dịch), có thể dẫn đến hoại thư.

 


Hình thái hiếm gặp của HKTMS.

PHÒNG BỆNH
Bệnh nhân khi ra viện cần được đánh giá xem có thường xuyên bị nguy cơ cao của huyết khối tĩnh mạch hay không? Từ đây, một lối sống thích hợp với sức khỏe và tim mạch có thể làm giảm nguy cơ huyết khối tĩnh mạch. Sử dụng heparin khi mổ cho các bệnh nhân có nguy cơ huyết khối cao làm giảm nguy cơ của HKTMS; tuy vậy, hiệu quả trên TTP hay trên tỷ lệ tử vong chung thì chưa cụ thể. Ở các bệnh nhân nằm viện không do bệnh ngoại khoa, heparin hầu như làm giảm tỷ lệ tử vong có ý nghĩa thống kê và có thể làm giảm nguy cơ bị TTP và HKTMS, nhưng lại làm tăng thêm trường hợp chảy máu lớn. Tuy nhiên, dường như không làm giảm tỷ lệ các HKTMS có triệu chứng. Ở các bệnh nhân nằm viện vì đột qụy không phẫu thuật, các biện pháp cơ học (vớ áp lực) gây tổn thương cho da và không có cải thiện về lâm sàng.

Hướng dẫn lâm sàng năm 2011 của Hội các Thầy thuốc Hoa Kỳ có 3 khuyến cáo mạnh mẽ về việc đề phòng huyết khối và thuyên tắc phổi ở các bệnh nhân không ngoại khoa: các bệnh nhân nằm viện trước khi tiến hành dự phòng phải được đánh giá nguy cơ huyết khối và thuyên tắc; heparin hay thuốc có liên quan được sử dụng khi các lợi ích tiềm năng được cho là lớn hơn các tác hại có thể xảy ra; không sử dụng vớ áp lực.

ĐIỀU TRỊ
Những hướng dẫn lâm sàng của Hội các Thầy thuốc Lồng ngực Hoa Kỳ công bố tháng 2/2012 về điều trị huyết khối và thuyên tắc: thuốc điều trị bao gồm các thuốc chống đông như heparin, fondaparinux và mới hơn là dabigatran cho thấy có những hứa hẹn. Các thuốc kháng vitamin K như warfarin cũng thường được sử dụng.

 
Nguồn tin : ThS BS Lê Phi Long     
 
Các tin tức khác cùng chủ đề  
Nhận biết về suy giảm nhận thức và sa sút trí tuệ  Nhận biết về suy giảm nhận thức và sa sút trí tuệ  ( 07.10.2013 )
Trao đổi thông tin giữa thầy thuốc với người bệnh và thân nhân  Trao đổi thông tin giữa thầy thuốc với người bệnh và thân nhân  ( 07.10.2013 )
Gù vẹo cột sống ở trẻ em  Gù vẹo cột sống ở trẻ em  ( 07.10.2013 )
Ph́nh và tắc động mạch  Ph́nh và tắc động mạch  ( 19.08.2013 )
Ù Tai  Ù Tai  ( 01.08.2013 )
Viêm  màng năo kư sinh trùng  Viêm màng năo kư sinh trùng  ( 01.08.2013 )
Chăm sóc người bệnh được đặt thông JJ  Chăm sóc người bệnh được đặt thông JJ  ( 31.07.2013 )
Tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt  Tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt  ( 31.07.2013 )
Nang tổ lông  Nang tổ lông  ( 30.07.2013 )
Hiện tượng ruồi bay  Hiện tượng ruồi bay  ( 30.07.2013 )

 [ Xem tất cả tin trong mục này ]




    THÔNG TIN ĐÀO TẠO

Thông báo chiêu sinh lớp Quản lư hen và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trong cộng đồng – Khóa 43

Thông báo chiêu sinh lớp Điều dưỡng dụng cụ trong phẫu thuật nội soi ổ bụng

Thông báo chiêu sinh lớp Nội soi tiêu hóa trên căn bản – Khóa 8

Thông báo chiêu sinh lớp tập huấn: PHẪU THUẬT THAY KHỚP GỐI CĂN BẢN

Thông báo Chiêu sinh lớp Tập huấn Nhân viên Nhà thuốc

Đào tạo Hộ lư trong Bệnh viện khóa 2013 - 2014










  UMC

 

© Copyright 2003-2011 -  Email: bvdh@hcm.vnn.vn
Bệnh viện Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: 215 Hồng Bàng, P 11, Q5, TP.Hồ Chí Minh
Điện thoại: (84.8) 3855 4269; Fax: (84.8) 3950 6126